Xét nghiệm chất gây nghiện qua xét nghiệm nước tiểu

Ngày đăng : 13/10/2020 | 15:52

Xét nghiệm chất gây nghiện trong nước tiểu là một phương pháp an toàn và ít tốn thời gian nhất. Vậy có thể phát hiện được những chất gây nghiện nào trong nước tiểu

1. Ma túy, chất gây nghiện là gì?

Ma túy là là tên gọi chung chỉ những chất kích thích thần kinh có hiệu ứng gây ngủ. Tại đa số các nước, từ này đã trở nên đồng nghĩa với các hợp chất opioid, thường là morphine và heroin, cũng như dẫn xuất của nhiều hợp chất được tìm thấy trong mủ thuốc phiện thô. Ba loại chính là morphine, codeine và thebaine (trong khi chính thebaine chỉ có tính chất thần kinh rất nhẹ, nó là tiền chất quan trọng trong phần lớn các chất dẫn xuất thuốc phiện bán tổng hợp, như oxycodone).Chất gây nghiện nói chung có khả năng kích thích hệ thần kinh trung ương, gây ra sự ảo giác, sự vui thích, cảm giác kích thích chưa bao giờ có,... Vì vậy nhiều người sử dụng nó như một thú vui tiêu khiển nhưng nếu sử dụng nhiều lần và sử dụng quá nhiều sẽ gây phụ thuộc thuốc, gây ra hậu quả rất nghiêm trọng có thể gây nguy hiểm tính mạng.

Chất gây nghiện có thể được phát hiện trong các bệnh phẩm như: máu, nước tiểu, da, tóc, nước bọt,... Phương pháp phổ biến nhất vẫn là xét nghiệm qua đường máu và nước tiểu. Trong đó xét nghiệm các chất gây nghiện trong nước tiểu là phương pháp đơn giản nhất do quá trình thu thập mẫu đơn giản, dễ dàng.

2. Có thể phát hiện được những chất gây nghiện nào trong nước tiểu?

  • MOP (Chất ma túy đá dạng thuốc phiện: heroin, morphin)

MOP còn được biết đến là chất giảm đau gây nghiện (opiat) gồm một nhóm lớn các chất kiểm soát đau bằng cách ức chế hệ thần kinh trung ương. Các chất này là thành phần có trong cây thuốc phiện. Ngoài tác dụng giảm đau nhóm này còn gây ra hậu quả rất nghiêm trọng là gây phụ thuộc vào thuốc, nếu muốn giảm đau thì phải tăng liều thuốc dễ gây nghiện và nguy hiểm.

Hậu quả: Sử dụng liều cao có thể gây ra mức độ say thuốc và lệ thuộc vào thuốc cho người sử dụng, dẫn đến tình trạng nghiện. Nếu dùng thuốc quá liều có thể dẫn đến tình trạng sốc thuốc nếu không xử lý kịp thời sẽ gây tử vong.

Xét nghiệm chẩn đoán: Morphin được bài tiết dưới dạng không chuyển hóa và cũng là chất chuyển hóa chủ yếu của heroin và codein. Thuốc có tác dụng trong 3 - 6 giờ và tồn tại trong nước tiểu khoảng 3 - 7 ngày sau khi sử dụng.

·MET (Methamphetamine) 

MET còn được gọi là ma túy đá, là một chất gây nghiện được tổng hợp thuộc nhóm Methamphetamine. MET gây tác động lên hệ thần kinh trung ương và giải phóng dopamin hàng loạt.

Hậu quả: Sử dụng liều cao cấp tính gây tăng cường kích thích hệ thần kinh trung ương dẫn đến trầm cảm, hoang tưởng, ảo giác. Nhiều người bệnh còn có những trạng thái tiêu cực như có những hành vi bạo lực với những người xung quanh hoặc chính bản thân mình, nặng hơn còn có hành vi tự tử.

Sử dụng kéo dài có thể gây ra các sự thay đổi đột ngột trong cảm xúc, hành vi khiến người dùng không thể kiểm soát được cảm xúc và hành động của bản thân gây ra những hậu quả rất nghiêm trọng. Nó còn gây ra tình trạng mệt mỏi, khó tập trung phải dùng MET để tỉnh táo lại.

Xét nghiệm chẩn đoán: MET có tác dụng kéo dài từ 2 - 4 giờ sau khi sử dụng. Có khoảng 10 - 20% MET được bài tiết qua nước tiểu dưới dạng không thay đổi nên xét nghiệm nước tiểu có thể phát hiện ra người sử dụng MET. MET được phát hiện trong nước tiểu trong khoảng 3 - 4 ngày sau khi sử dụng, tùy thuộc vào độ PH của nước tiểu.

·THC (Marijuana - cần sa)

Đây là thành phần hoạt chất chính trong cây cần sa. THC sau khi dùng sẽ ngấm vào máu và được chuyển lên não tạo ra cảm giác hưng phấn

Hậu quả: Người sử dụng THC sẽ gây suy giảm trí nhớ và khả năng tiếp thu kém. Người dùng cũng có thể trải qua những giai đoạn bối rối và lo lắng nhất thời. Sử dụng cần sa liều cao trong thời gian dài còn dẫn đến mất kiểm soát cơ thể, gây rối loạn hành vi.

Xét nghiệm chẩn đoán: THC có tác dụng ngay sau khi sử dụng, đạt đỉnh điểm sau 20 - 30 phút và kéo dài trong 90 đến 120 phút và tồn tại trong 3 - 10 ngày trong nước tiểu sau khi sử dụng.

·MDMA (Methylenedioxy - Methamphetamine) 

MDMA còn được gọi là Ecstacy hay thuốc lắc là một loại thuốc gây nghiện tổng hợp dưới dạng viên nén hoặc viên nang. Nó tác động lên cơ thể bằng cách tăng cường năng lượng và sự tỉnh táo trong khi gây các hiệu ứng ảo giác sẽ kích thích cảm giác làm cho các hình ảnh thực tế bị thay đổi.

Hậu quả: gây cao huyết áp và tăng nhịp tim. MDMA gây ra một số sự thay đổi về tri giác như tăng sự nhạy cảm với ánh sáng, khó tập trung và nhìn mọi vật mờ. Cơ chế tác động là tăng bài tiết chất dẫn truyền thần kinh là serotonin ngoài ra nó còn lăng tăng bài tiết dopamine gây ra tổn thương về mặt nhận thức và tâm lý đó là lý do người dùng thuốc lắc luôn cảm thấy buồn bã và uể oải sau một đêm sử dụng. Sử dụng liều cao một thời gian dài sẽ dẫn đến rối loạn khả năng điều hòa thân nhiệt của cơ thể có thể gây ra suy gan, suy thận, suy tim. Lâu dần sẽ gây ảnh hưởng đến tính mạng.

Xét nghiệm chẩn đoán: MDMA có tác dụng sau khi sử dụng 30 phút và kéo dài trong 2 - 3 giờ. Bài tiết qua nước tiểu và phát hiện được trong nước tiểu trong vòng 3 ngày sau khi sử dụng.

·Ketamin (Ma túy tổng hợp)

Có ở dạng chất lỏng, bột tinh thể, viên nén. Nó có tác dụng rất nhanh gây ra cảm giác phê và gây ra các ảo giác.

Hậu quả: Keratin có khả năng gây ra tình trạng ảo giác, hoang tưởng, bị kích động mạnh, không cảm thấy đau đớn, rối loạn thị giác, xuất hiện sự méo mó trong cảm giác mùi vị, sờ mó; mất cảm giác về định hướng không gian và thời gian. Ngoài ra nó còn gây mất trí nhớ ngắn hạn không nhận biết mình là ai có thể gây ra các hành vi nguy hiểm cho bản thân và cho những người xung quanh gây ra những hậu quả vô cùng nghiêm trọng cho bản thân và cho xã hội.

Xét nghiệm chẩn đoán: Ketamin có tác dụng sau vài giây ngay sau khi sử dụng và kéo dài trong 2,5 - 3 giờ.

3. Những yếu tố gây ảnh hưởng đến kết quả

Những yếu tố có thể gây dương tính giả: người bệnh sử dụng các thuốc như: Ciprofloxacin, Levofloxacin, Moxifloxacin, Norfloxacin, Ofloxacin; các thuốc giảm đau như: Meperidine, Pethidine, Fentanyl; Các thuốc chống dị ứng như Diphenhydramin; thuốc ho Dextromethorphan.

Những yếu tố có thể gây âm tính giả như: người bệnh sử dụng liều thấp, nước tiểu được pha loãng, thời gian lấy mẫu không đúng, nước tiểu bị tạp nhiễm (do nhiễm dấm, xà phòng, các loại nước tẩy rửa, muối ăn, amoniac, natri, kalinitrit). Hoặc do người bệnh thay đổi mẫu nước tiểu. 

4. Những lưu ý khi lấy mẫu xét nghiệm

Nước tiểu của bệnh nhân phải lấy đúng kỹ thuật, không lẫn máu, mủ. Mẫu nước tiểu không được làm loãng và phải được đựng trong cốc nghiệm khô và sạch. 

Trên dụng cụ đựng bệnh phẩm phải ghi đầy đủ thông tin của bệnh nhân ( tên, tuổi, địa chỉ, khoa/phòng, số giường ...). Các thông tin này phải khớp với các thông tin trên phiếu chỉ định xét nghiệm. Nếu không đúng: Hủy và lấy lại mẫu.

 

Banner đặt câu hỏi tư vấn cho bác sĩ

ĐẶT CÂU HỎI TƯ VẤN CHO BÁC SĨ

LIÊN HỆ NGAY VỚI CHÚNG TÔI

* Chúng tôi sẽ gọi lại ngay trong 30 phút

Giờ làm việc

Các ngày trong tuần từ Thứ 2 đến Chủ nhật

Thời gian: 7:30 đến 20:00

Trực cấp cứu: 24/24

Xem chi tiết khám ngoài giờ

Hỗ trợ trực tuyến